Động Kinh – Rối Loạn Đi Kèm Của Chứng Tự Kỷ
Thách thức lớn trong việc chẩn đoán động kinh ở trẻ tự kỷ là sự chồng lấn giữa các cơn co giật và hành vi lặp lại, rập khuôn, gây khó khăn cho việc chẩn đoán chính xác. Miwako sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quan sát kỹ lưỡng và khai thác bệnh sử chi tiết để phân biệt rõ ràng hai loại hành vi này. Điều này giúp các chuyên gia đưa ra hướng can thiệp và điều trị phù hợp nhất cho trẻ.
Động kinh, một rối loạn não phổ biến được đặc trưng bởi các cơn co giật tái phát, thường xuất hiện đồng thời với chứng tự kỷ, một rối loạn phát triển thần kinh ảnh hưởng đến giao tiếp và tương tác xã hội. Bài viết này, Tỷ lệ Mắc Động Kinh ở Trẻ Tự Kỷ
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ mắc động kinh ở Các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ này dao động từ 2% đến 46%. Tuy nhiên, tất cả các ước tính này đều vượt quá tỷ lệ mắc động kinh trong dân số nói chung là 1,2% ở Hoa Kỳ. Tỷ lệ mắc chứng tự kỷ và động kinh cũng phổ biến hơn nhiều ở nam giới. Một nghiên cứu từ Thụy Điển trên hơn 85.000 người mắc chứng động kinh cho thấy chứng tự kỷ phổ biến gấp 10 lần ở những người này so với dân số nói chung. Nghiên cứu này cũng cho thấy những người mắc có nguy cơ mắc chứng tự kỷ cao hơn, với tỷ lệ nguy cơ là 10,49. Anh chị em ruột (tỷ lệ nguy cơ 1,62) và con cái (tỷ lệ nguy cơ 1,64) của những người mắc chứng động kinh cũng có nguy cơ mắc chứng tự kỷ cao hơn. Nguy cơ này đặc biệt cao ở con cái của những bà mẹ mắc chứng động kinh (tỷ lệ nguy cơ 1,91). Điều này cho thấy mối liên hệ di truyền tiềm ẩn giữa hai tình trạng này. Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc động kinh ở trẻ tự kỷ là mức độ khuyết tật trí tuệ. Trẻ tự kỷ không có khuyết tật trí tuệ có nguy cơ mắc động kinh là 8%, trong khi trẻ có khuyết tật trí tuệ có nguy cơ lên đến 20%. Nguy cơ này có thể cao tới 40% ở trẻ bị khuyết tật trí tuệ nặng. Ở trẻ tự kỷ có chỉ số IQ trên 70, tỷ lệ mắc vào khoảng 4%. Nguy cơ phát triển động kinh ở trẻ tự kỷ tăng lên khi trẻ bước vào tuổi thiếu niên và tiếp tục tăng cho đến tuổi trưởng thành trẻ tuổi. Các nghiên cứu cũng đề cập đến các đỉnh tuổi hai phương thức khởi phát động kinh ở trẻ tự kỷ là những năm đầu đời và đầu tuổi dậy thì (trên 10 tuổi). Trẻ em mắc chứng tự kỷ có thể gặp hầu hết các dạng động kinh, bao gồm cả động kinh cục bộ và toàn thể. Động kinh cục bộ bắt đầu ở một vùng não cụ thể, trong khi động kinh toàn thể ảnh hưởng đến cả hai bán cầu não. Các dạng nghiêm trọng hơn (thường gặp ở trẻ tự kỷ có triệu chứng) cũng có thể bao gồm cơn mất trương lực (đột ngột gục đầu hoặc toàn thân) và cơn co cứng (cứng toàn thân). Một số loại động kinh thường gặp ở trẻ tự kỷ được tóm tắt trong bảng sau: Mặc dù động kinh cục bộ hoặc từng phần là loại phổ biến nhất ở những người mắc chứng động kinh, những người mắc chứng tự kỷ và động kinh có nhiều khả năng bị co giật toàn thân co cứng – co giật. Một nghiên cứu trên 26 trẻ em tự kỷ mắc động kinh cho thấy các loại động kinh phổ biến nhất là động kinh cục bộ có hoặc không có toàn thể hóa thứ phát (53,4%). Cha mẹ và người chăm sóc nên chú ý đến các dấu hiệu tiềm ẩn của cơn động kinh ở trẻ tự kỷ, bao gồm các cơn nhìn chằm chằm (có thể là dấu hiệu của cơn vắng ý thức hoặc cơn vắng ý thức không điển hình), cứng người (có thể là dấu hiệu của cơn co cứng), run hoặc co giật nhịp nhàng (có thể là dấu hiệu của cơn động kinh cục bộ có ý thức/đơn giản từng phần) và mất chú ý (có thể là dấu hiệu của cơn vắng ý thức hoặc cơn động kinh cục bộ mất ý thức/phức tạp từng phần). Một số yếu tố làm tăng nguy cơ trẻ tự kỷ phát triển động kinh. Các yếu tố nguy cơ này bao gồm: Điều quan trọng cần lưu ý là các yếu tố khác như giới tính, thoái lui ngôn ngữ và chức năng xã hội không làm tăng khả năng trẻ tự kỷ phát triển động kinh. Mục tiêu chính của điều trị động kinh ở trẻ tự kỷ là kiểm soát cơn co giật và cải thiện chất lượng cuộc sống. Các phương pháp điều trị bao gồm: Khi chẩn đoán động kinh ở trẻ tự kỷ, điều quan trọng là phải phân biệt các cơn co giật tiềm ẩn với các hành vi lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn khác. Lấy bệnh sử cẩn thận và quan sát kỹ lưỡng là rất quan trọng để chẩn đoán chính xác. Một số nghiên cứu cho thấy thuốc điều trị động kinh có thể có hiệu quả đối với chứng tự kỷ. Ví dụ, một nghiên cứu cho thấy valproate, một loại thuốc chống, dường như làm giảm tính cáu kỉnh ở trẻ tự kỷ nhỏ tuổi bị động kinh. Tuy nhiên, cần nghiên cứu thêm trong lĩnh vực này. Thuốc chống động kinh có thể gây ra một số tác dụng phụ, bao gồm: Một số loại thuốc chống động kinh, chẳng hạn như valproate, có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng như độc tính gan, tăng amoniac máu và viêm tụy. Trẻ em tiếp xúc với thuốc chống động kinh trong tử cung cũng có nguy cơ cao bị dị tật bẩm sinh và các vấn đề về phát triển, bao gồm cả các đặc điểm tự kỷ. Tuy nhiên, hai loại thuốc chống thường được sử dụng là lamotrigine và levetiracetam dường như không làm tăng nguy cơ tự kỷ và khuyết tật trí tuệ ở trẻ em. Ngoài điều trị bằng thuốc, ” target=”_blank” rel=”noopener”>can thiệp sớm để cải thiện chất lượng cuộc sống. Các biện pháp hỗ trợ và can thiệp bao gồm: Điều quan trọng cần nhớ là các hành vi lặp đi lặp lại và rập khuôn thường gặp ở trẻ tự kỷ và không nhất thiết là động kinh. Quan sát cẩn thận và lấy bệnh sử là rất quan trọng để chẩn đoán chính xác. Động kinh là một rối loạn đi kèm phổ biến ở trẻ em mắc chứng tự kỷ, với tỷ lệ mắc bệnh cao hơn đáng kể so với dân số nói chung. Mối liên hệ chặt chẽ này cho thấy khả năng có chung cơ chế sinh học cơ bản, chẳng hạn như não bộ bị kích thích quá mức. Khuyết tật trí tuệ và tuổi tác là những yếu tố nguy cơ chính gây ở trẻ tự kỷ. Trẻ em mắc chứng tự kỷ có thể gặp nhiều loại động kinh khác nhau, và việc chẩn đoán có thể gặp khó khăn do sự chồng chéo giữa các hành vi tự kỷ và các triệu chứng của nó.Các Loại Động Kinh Thường Gặp ở Trẻ Tự Kỷ
Loại Động Kinh
Triệu Chứng
Động kinh toàn thể co cứng – co giật
Cứng cơ (hoạt động co cứng) và co giật hoặc giật (hoạt động co giật).
Động kinh cục bộ
Mất nhận thức hoặc vẫn hoàn toàn tỉnh táo; co giật ở một phần cơ thể; cảm giác ngứa ran; chóng mặt; nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy.
Hội chứng Landau-Kleffner
Mất ngôn ngữ.
Hội chứng Rett
Các hành vi giống tự kỷ.
Cơn vắng ý thức
Mất nhận thức; nhìn chằm chằm; cử động cơ thể tinh tế.
Cơn co cứng
Cứng cơ; ngã.
Cơn mất trương lực
Đột ngột gục xuống.
Cơn co giật
Cử động cơ bắp nhịp nhàng ở cổ, mặt và cánh tay.
Cơn giật cơ
Co giật đột ngột ở tay và chân.
Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Động Kinh ở Trẻ Tự Kỷ
Các Phương Pháp Điều Trị Động Kinh ở Trẻ Tự Kỷ
Các Tác Dụng Phụ Của Thuốc Điều Trị Động Kinh ở Trẻ Tự Kỷ
Các Biện Pháp Hỗ Trợ và Can Thiệp Cho Trẻ Em Mắc Chứng Tự Kỷ và Động Kinh
Nguồn tham khảo